Trang chủ diễn đàn >> [ ... ] Xương Khớp

Xương Khớp
Phanphuongog@gmail.com
10/5/2019 4:29:50 PM 8599
Phanphuongog@gmail.com

Xương Khớp 




 Em năm nay 19 tuổi, do tính chất công việc là phải ngồi máy tính cả ngày, dạo gần đây khi nằm xuống cảm giác phần xương sống thắt lưng dơi đau nhức và giống như bị cong lên, nằm cảm giác không được thẳng lưng rất khó chịu. không biết biểu hiện trên có nguy cơ bệnh gì và nguy hiểm không ạ. Mong được bác sĩ tư vấn!




10/19/2019 9:08:40 AM 8600
bsHien





Thành viên TVSK
Đến từ :

Số bài đã gởi : 1286 
 

Trả lời: Xương Khớp 




 Chào cháu.

Đau lưng thường gặp ở các bạn tre ngồi làm việc nhiều giờ theo cùng một tư thế và các người lớn tuổ , có béo phì thường bị đa lưng nhiều hơn.

Nguyên nhân có nhiều. Ở người trẻ thường là Viêm chu khớp ĐS, Căng dây chằng ĐS, và các bệnh của đốt sống, đĩa đệm.. Bệnh thườn nhẹ và dễ chữa, tuy nhiên không loại trừ một số trường hợp khó.

Cháu cần đến BS khám để timf ra nguyên nhân và đt cho khỏi.

Tôi gởi cháu bài viêt duois đây, cháu đọc để hiểu thêm:

BS Nguyễn Ngọc Hiền

 

 

Đau lưng

 BS Nguyễn Ngọc Hiền

Đau Lưng được chia thành đau cổ, đau lưng giữa (ngực), đau lưng dưới (thắt lưng) và đau vùng xương cùng – coccydynia, dựa trên phân đoạn bị ảnh hưởng. Vùng thắt lưng là khu vực phổ biến nhất bị ảnh hưởng. Các cơn đau lưng có thể là cấp tính, bán cấp tính hoặc mãn tính tùy thuộc vào thời gian.  Cơn đau có thể là đau âm ỉ, hoặc đau như dao đâm, hoặc cảm giác nóng rát.  Sự khó chịu có thể lan tỏa vào cánh tay và bàn tay cũng như chân hoặc bàn chân và có thể bao gồm tê, hoặc yếu ở chân và cánh tay.

Phần lớn các cơn đau lưng không đặc hiệu và khó xác định nguyên nhân. Các nguyên nhân thường gặp bao gồm thoái hóa hoặc chấn thương đối với các khớp đốt sống hoặc đĩa đệm, sau đó có thể đau thứ phát ở cơ và dây thần kinh. Các khối u của đốt sống, các mô thần kinh và các cấu trúc lân cận cũng có thể biểu hiện là đau lưng.
Đau lưng khá phổ biến: khoảng chín trong số mười người trưởng thành có trải qua đau lưng tại một số thời điểm trong cuộc đời của họ, và năm trong số mười người trưởng thành đang làm việc bị đau lưng  mỗi năm. Một số ước tính lên đến 95% mọi người sẽ bị đau lưng tại một số thời điểm trong cuộc đời của họ.

 Phân loại: Đau lưng được phân loại theo thời gian:
 - Đau lưng cấp tính kéo dài dưới 6 tuần
 - Đau lưng bán cấp kéo dài từ 6 đến 12 tuần.
 - Đau lưng mãn tính kéo dài hơn 12 tuần.
 

Nguyên nhân:
Có nhiều nguyên nhân gây đau lưng, bao gồm mạch máu, cơ quan nội tạng, nhiễm trùng, cơ học và nguyên nhân tự miễn. Khoảng 90% những người bị đau lưng được chẩn đoán là đau lưng cấp tính không đặc hiệu trong đó không có bệnh lý nghiêm trọng tiềm ẩn. Trong khoảng 10% phần trăm số người, nguyên nhân có thể được xác định thông qua chẩn đoán hình ảnh. Ít hơn 2% được quy cho các yếu tố thứ cấp, như ung thư di căn và nhiễm trùng nghiêm trọng (chẳng hạn viêm tủy xương và áp xe ngoài màng cứng). Trong 90% trường hợp, không tìm thấy nguyên nhân hoặc bất thường về sinh lý trong các xét nghiệm chẩn đoán.

Đau lưng không đặc hiệu có thể là do căng cân cơ chằng đốt sống. Nguyên nhân có thể là chấn thương cơ hoặc dây chằng quanh cột sống. Đau lưng mãn tính ở những người có hình XQ  xương bình thường, có thể xuất phát từ sự nhạy cảm trung tâm, trong đó một chấn thương gây đau ban đầu gây ra tình trạng nhạy cảm kéo dài. Trạng thái dai dẳng này duy trì cơn đau ngay cả sau khi vết thương ban đầu đã lành. Để điều trị cần liều thấp thuốc chống trầm cảm và phục hồi chức năng như vật lý trị liệu. 

- Bệnh đĩa đệm cột sống
Bệnh đĩa đệm cột sống xảy ra khi nhân lõi bên trong của đĩa đệm đốt sống bị vỡ. Nhân đĩa đệm bị vỡ khiến một phần đĩa đệm bị lồi vào ống tủy, chèn ép rễ thần kinh. Các triệu chứng có  tương quan với khu vực của các dây thần kinh tủy sống bị ảnh hưởng, gọi là thoát vị đĩa đệm. Khu vực phổ biến nhất thường bị thoát vị đĩa đệm cột sống là ở L4 - L5 hoặc L5 - S1.  Nguy cơ bị thoát vị đĩa đệm thắt lưng cao ở những người thừa cân do lực nén của phần trên cơ thể tác động vào đĩa đệm tăng lên.
Chèn ép tủy sống nghiêm trọng được coi là một cấp cứu phẫu thuật và đòi hỏi phải giải nén để bảo tồn chức năng vận động và cảm giác. Hội chứng chùm đuôi (Equina Cauda) do chèn ép tủy sống cùng. Bàng quang không tự chủ thường thấy trong các giai đoạn sau của hội chứng Equina cauda.

 - Bệnh thoái hóa
 Bệnh thoái hóa cột sống, hay viêm khớp thoái hóa cột sống, xảy ra khi đĩa đệm trải qua những thay đổi thoái hóa, khiến đĩa đệm bị xơ cứng hay bị hỏng.  Có một mối liên quan giữa xẹp đĩa đệm và đau cột sống thắt lưng do khoảng không gian giữa các đốt sống trở nên hẹp hơn, dẫn đến chèn ép và kích thích các rễ thần kinh.

Trượt thân đốt sống (Spondylolithesis) là sự trượt ra trước của một đốt sống so với đốt sống lân cận. Spondylolithesis xẩy ra do những thay đổi thoái hóa liên quan đến tuổi tác cũng như chấn thương và dị tật bẩm sinh.
Hẹp ống cột sống có thể xảy ra trong các trường hợp thoái hóa cột sống nghiêm trọng, thoái hóa cột sống và tuổi khiến lớp ligamentum flavum (dây chằng vòng cung) dày lên.  Hẹp ống sống thường biểu hiện ở những bệnh nhân lớn hơn 60 tuổi. Gãy xẹp đốt sống xảy ra ở 4% bệnh nhân vào viện vì đau thắt lưng. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi, giới tính nữ, tiền sử loãng xương và sử dụng glucocorticoid dài ngày. Gãy xương đốt sống có thể xảy ra do chấn thương nhưng trong nhiều trường hợp có thể không có triệu chứng.


 - Nhiễm trùng
 Các nguyên nhân nhiễm trùng phổ biến của đau lưng bao gồm viêm tủy xương, viêm đĩa đệm, áp xe cột sống và áp xe ngoài màng cứng. Nguyên nhân truyền nhiễm dẫn đến đau lưng liên quan đến các cấu trúc khác nhau xung quanh cột sống.
Viêm xương tủy đốt sống (myeospondilitis) là bệnh nhiễm trùng xương đốt sống. Viêm xương tủy đốt sống thường gặp nhất do staphylococci. Các yếu tố nguy cơ bao gồm nhiễm trùng da, nhiễm trùng đường tiết niệu, sử dụng ống thông IV, sử dụng thuốc IV, viêm nội tâm mạc trước đó và bệnh phổi. Áp xe màng cứng cột sống cũng thường gây ra bởi nhiễm trùng nặng do nhiễm khuẩn huyết. Các yếu tố rủi ro bao gồm gây tê ngoài màng cứng, sử dụng thuốc IV hoặc nhiễm trùng.

Nhiễm trùng thần kinh tủy sống có thể xảy ra trong trường hợp hẹp ống sống thắt lưng nghiêm trọng và có triệu chứng đau ở lưng dưới, mông hoặc chân, đau nhiều khi đứng và giảm khi ngồi.

 - Ung thư
 Di căng ung thư đến xương hoặc tủy sống có thể dẫn đến đau lưng.  Xương là một trong những vị trí phổ biến nhất của tổn thương di căn.  Bệnh nhân thường có tiền sử bệnh ác tính.  Các loại ung thư phổ biến xuất hiện với đau lưng bao gồm đa u tủy, ung thư hạch, bệnh bạch cầu, khối u tủy sống, khối u đốt sống nguyên phát và ung thư tuyến tiền liệt. Đau lưng có ở 29% bệnh nhân ung thư hệ thống. Không giống như các nguyên nhân gây đau lưng khác thường ảnh hưởng đến cột sống thắt lưng, cột sống ngực thường bị ảnh hưởng nhất. Không giống như các nguyên nhân gây đau lưng khác, đau lưng liên quan đến ung thư là liên tục, âm ỉ, khu trú và tồi tệ nhất khi nghỉ ngơi. Di căn vào xương cũng làm tăng nguy cơ chèn ép tủy sống hoặc gãy xương đốt sống cần điều trị phẫu thuật khẩn cấp.


 - Tự miễn
Đau lưng có thể được gây ra bởi các đốt sống chèn ép các đĩa đệm.
Các bệnh viêm khớp như viêm cột sống dính khớp, viêm khớp vẩy nến, viêm khớp dạng thấp và bệnh lupus ban đỏ hệ thống đều có thể gây ra mức độ hủy hoại khớp khác nhau.  Trong số các viêm khớp (arthritis), viêm cột sống dính khớp có liên quan chặt chẽ nhất với đau lưng do sự phá hủy viêm của các thành phần xương của cột sống. 

 

 Các yếu tố rủi ro
 Nâng vật nặng, béo phì, lối sống ít vận động và thiếu tập thể dục có thể làm tăng nguy cơ đau lưng của một người. [2]  Những người hút thuốc có nhiều khả năng bị đau lưng hơn những người khác. [22]  Tư thế xấu và tăng cân trong thai kỳ cũng là yếu tố nguy cơ gây đau lưng.  Nói chung, mệt mỏi có thể làm đau thêm. [2]
 Một số nghiên cứu cho thấy các yếu tố tâm lý xã hội như căng thẳng trong công việc và các mối quan hệ gia đình rối loạn có thể tương quan chặt chẽ hơn với đau lưng so với các bất thường về cấu trúc được phát hiện trong tia X và quét hình ảnh y tế khác. [23] [24] [25] [  26]

Chẩn đoán

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Hội chứng đau thắt lưng (đau lưng vùng thấp)

Ngoài việc hỏi tiền sử bệnh tật, các triệu chứng hiện tại và khám thực thể trên người bệnh, bác sĩ sẽ thực hiện một số các xét nghiệm nếu,  

  • Đau lưng xuất hiện do chấn thương
  • Có thể có nguyên nhân do bệnh khác cần phải điều trị
  • Đau trong một thời gian dài
  • Chụp X-quang, chụp MRI hoặc CT có thể cung cấp thông tin về tình trạng của các mô mềm ở lưng:
  • X-quang có thể cho thấy sự liên kết của xương và phát hiện các dấu hiệu viêm khớp hoặc gãy xương, loãng xương. Nhưng yếu điểm của chụp X-quang không cho thấy tổn thương ở cơ, tủy sống, dây thần kinh hoặc đĩa đệm.
  • Chụp MRI hoặc CT có thể phát hiện thoát vị đĩa đệm hoặc các vấn đề với mô, cân cơ, dây thần kinh, dây chằng, mạch máu, cơ và xương.
  • Điện cơ (Electromyography) dùng để đo các xung điện do dây thần kinh tạo ra chạy đến điều khiển cơ bắp. Nếu có tình trạng chèn ép dây thần kinh, có thể nghi người bệnh mắc thoát vị đĩa đệm hoặc hẹp ống sống.

Bác sĩ cũng có thể yêu cầu xét nghiệm máu nếu nghi ngờ nhiễm trùng.

Các biện pháp điều trị bệnh Hội chứng đau thắt lưng (đau lưng vùng thấp)

Đau lưng thường được giải quyết bằng nghỉ ngơi và các biện pháp chăm sóc tại nhà, nhưng nếu cần thiết thì vẫn phải điều trị tại bệnh viện bằng thuốc và phẫu thuật.

Điều trị tại nhà

  • Thuốc giảm đau OTC, thuốc chống viêm không steroid (NSAID) để làm giảm đau. Ngoài ra, người bệnh có thể chườm nóng hoặc chườm nước đá vào vùng đau cũng có tác dụng làm giảm đau.
  • Nghỉ ngơi và tránh các hoạt động gắng sức nhưng  người bệnh vẫn phải vận động đi lại nhẹ nhàng sẽ giảm bớt cứng khớp, giảm đau và ngăn cơ bắp yếu đi.

·       Vật lý trị liệu: Áp dụng nhiệt, lạnh, siêu âm và kích thích điện để làm giảm đau. Khi triệu chứng đau được cải thiện, bác sĩ hoặc kỹ thuật viên vật lý trị liệu có thể hướng dẫn người bệnh một số bài tập mềm dẻo và tăng cường sức mạnh cho cơ lưng và cơ bụng. Người bệnh được khuyến khích thực hành các kỹ thuật thường xuyên, kể cả khi đã hết đau, để ngăn ngừa đau lưng tái phát.

 

Điều trị tại BV

Nếu các biện pháp phi dược lý không hiệu quả, thuốc có thể được thử.
- Các thuốc chống viêm không steroid (NSAID) thường được thử đầu tiên. NSAID đã được chứng minh là có hiệu quả hơn giả dược và thường hiệu quả hơn paracetamol (acetaminophen).

- Đối với đau lưng nghiêm trọng không giảm bớt bởi NSAID hoặc acetaminophen, opioids có thể được sử dụng hoặc thuốc chống trầm cảm cho đau lưng mãn tính liên quan đến giảm đau và tăng chức năng. Nên dùng phối hợp để giảm liều.

Tiêm Cortisone: Hiệu quả nhưng không nên lạ dụng.

Kéo giãn cột sống là phương pháp dùng lực cơ học tác động theo chiều dọc của cột sống nhằm làm giãn nở khoảng cách giữa các khoang đốt sống để đem lại hiệu quả điều trị.

Liệu pháp nhận thức - Hành vi (Cognitive behavioral therapy)

Có thể giúp kiểm soát chứng đau lưng mãn tính bằng cách khuyến khích những cách suy nghĩ mới. Liệu pháp này bao gồm các kỹ thuật thư giãn và cách duy trì thái độ tích cực như tập Yoga, Taichi…

Phẫu thuật cho đau lưng

Là rất hiếm, thường gặp trong trường hợp thoát vị đĩa đệm, đặc biệt là nếu có đau liên tục và chèn ép dây thần kinh có thể dẫn đến yếu cơ. Tùy từng trường hợp:

  • Phẫu thuật Fusion: Hai đốt sống được nối với nhau, với một mảnh ghép xương được chèn vào giữa chúng. Các đốt sống được nẹp lại với nhau bằng các tấm kim loại, ốc vít hoặc lưới.
  • Đĩa đệm nhân tạo: Một đĩa đệm nhân tạo được chèn vào giữa hai đốt sống.
  • Cắt bỏ đĩa đệm: Một phần của đĩa có thể được loại bỏ nếu nó gây khó chịu hoặc chèn vào dây thần kinh.
  • Loại bỏ một phần đốt sống: Một phần nhỏ của đốt sống có thể được loại bỏ nếu nó bị chèn ép tủy sống hoặc dây thần kinh.

 Phòng ngừa
Tập thể dục. Tập Vật Lý Trị Liệu…. Nhiệt bề mặt và xoa bóp, châm cứu và liệu pháp điều trị cột sống có thể được khuyến nghị.

Bệnh nhân bị đau lưng không biến chứng nên được khuyến khích duy trì hoạt động và trở lại hoạt động bình thường.
Đối với nhiều người, mục tiêu là giữ cho cơn đau ở mức có thể kiểm soát được để tiến triển với phục hồi chức năng, sau đó có thể dẫn đến giảm đau lâu dài.  Ngoài ra, đối với một số người, mục tiêu là sử dụng các liệu pháp không phẫu thuật để kiểm soát cơn đau và tránh phẫu thuật lớn, trong khi đối với những người khác, phẫu thuật có thể là cách nhanh nhất để cảm thấy tốt hơn. Áp dụng Y Học cá thể hóa. 

 


 






Số bài viết: 2 | Trang: 1 trên tổng số 1 trang |





COPYRIGHT@TƯ VẤN SỨC KHỎE - HỘI HÀNH NGHỀ Y TẾ TƯ NHÂN - KHÁNH HÒA 
Số lượt truy cập: 112425