Buu Dien DakLak Bluestar
THÔNG BÁO


HyperLink

Số lượt truy cập: 94557

Y T? TU NHÂN VI?T NAM
Y T? TU NHÂN TPHCM
T?ng H?i Y H?c
T?ng H?i Y H?c
T?ng H?i Y H?c
T?ng H?i Y H?c
Y T? C?ng Ð?ng
Tin t?c & S? ki?n
3/28/2018 8:38:26 PM
THAY ĐỔI TẾ BÀO LYMPHO TRONG MÁU NGOẠI BIÊN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ BÀNG QUANG

 Vào những năm đầu của thập niên 1990 nhờ phát triển phát hiện được kháng nguyên đơn dòng, người ta nhận thấy rằng tế bào lympho T có nhiệm vụ quan trọng trong việc phát hiện các tế bào ung thư qua sự nhận biết các kháng nguyên đặc hiệu của chúng.  Khi một tế bào trở thành ung thư, sẽ có xuất hiện những kháng nguyên đơn dòng đặc hiệu. Các tế bào lympho T có khả năng nhận biết chúng và tìm cách tiêu diệt chúng trước khi khối ung thư xuất hiện. Burnet đưa ra định luật gọi là “sự bảo vệ bằng miễn dịch” (immune surveillance). Nhờ có “sự bảo vệ bằng miễn dịch” này mà cơ thể tránh khỏi bị ung thư. Chỉ khi nào một số lượng lớn tế bào của một loại ung thư “thoát khỏi được sự bảo vệ bằng miễn dịch” này thì khối ung thư mới xuất hiện 


 THAY ĐỔI TẾ BÀO LYMPHO TRONG MÁU NGOẠI BIÊN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ BÀNG QUANG

                               BS Nguyễn Ngọc Hiền

                                                                        Bệnh Viện Khánh Hòa

 

            TÓM TẮT

I- MỞ ĐẦU

            Từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỹ XX người ta đã biết đến những rối loạn về miễn dịch trong các bệnh ung thư. Đến cuối thập niên này người ta đã phát hiện những rối loạn miễn dịch tế bào và dịch thể trong các bệnh ung thư tế bào chuyển tiếp bàng quang.

            Vào những năm đầu của thập niên 1990 nhờ phát hiện được kháng nguyên đơn dòng, người ta nhận thấy rằng tế bào lympho T có nhiệm vụ quan trọng trong việc phát hiện các tế bào ung thư qua sự nhận biết các kháng nguyên đặc hiệu của chúng. 

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

- Xác định các trị số CD3, CD4, CD8, các tỷ sô CD3/CD4, CD4/CD8 trong máu ngoại biên ở người lành, bệnh nhân ung thư bàng quang.

- Xác định mối liên quan giữa sự thay đổi của các trị số này ở người lành, bệnh nhân ung thư bàng quang nông và ung thư bàng quang xâm lấn.

- Xác định các sự thay đổi này có thể được sử dụng như một thông tin góp phần chẩn đoán và theo dõi diễn tiến của các bệnh nói trên hay không ?

II- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

            2.1- ĐỐI TƯỢNG:

Đối tượng nghiên cứu được chia thành 3 lô:

. Lô 1 (lô chứng): Người lành (không bị ung thư, không nhiễm HIV và không bị một bệnh mãn tính hay bệnh nặng khác) có cùng độ tuổi, dân tộc với các bệnh nhân trong lô nghiên cứu.

. Lô 2: tất cả bệnh nhân có kết quả GPB là ung thư  tế bào chuyển tiếp bàng quang thể nông.

. Lô 3: tất cả bệnh nhân có kết quả GPB là ung thư  tế bào chuyển tiếp bàng quang xâm lấn.

2.2- PHƯƠNG PHÁP và VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu cắt ngang có phân tích kết quả.

- Xử lý thống kê: Dùng test Mann-Whitney U, test Kruskal Wallis  để kiểm định sự khác biệt về trị số trung bình của CD3, CD4, CD8, CD4/CD3, CD4/CD8  giữa các nhóm bệnh nhân và nhóm chứng. Dùng hồi quy tiên lượng (logistic regression) khảo sát các thông số trên để tìm ra thông nào có giá trị tiên lượng giúp chẩn đoán một người có bị ung thư bàng quang hay không. Sử dụng chương trình SPSS for windows 11.5.   

V- KẾT LUẬN

            Qua nghiên cứu sự thay đổi tế bào lympho trong máu ngoai biên của 64 người gồm 29 người chứng, 20 bệnh nhân ung thư bàng quang nông 15 bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn chúng tôi nhận thấy:

            1- Trị số trung bình các dòng tế bào lympho trong máu ngoại biên:

            - Của người lành: CD3 = 1070 ± 117 tb/mcl; CD4 = 830 ± 438 tb/mcl; CD8 = 459 ± 229 tb/mcl;  CD4/CD3 = 0,755 ± 0,359; CD4/CD8 = 1,523 ± 0,352.

             - Của bệnh nhân ung thư bàng quang nông: CD3 = 1073 ± 229 tb/mcl; CD4 = 776 ± 239 tb/mcl; CD8 = 534 ±155 tb/mcl; CD4/CD3 = 0,713 ± 0,157; CD4/CD8 = 1,261 ± 0,170.

            - Của bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn: CD3 = 1106 ± 98 tb/mcl; CD4 = 580 ± 52 tb/mcl; CD8 = 577 ± 36 tb/mcl; CD4/CD3 = 0,551 ± 0,374; CD4/CD8 = 1,018 ± 0,763.

            2 – Tỷ số CD4/CD8 có giá trị tiên lượng trong chẩn đoán ung thư bàng quang. Tỷ số này càng thấp thì ung thư bàng quang càng có chiều hướng chuyển từ giai đoạn ung thư nông sang giai đoạn ung thư xâm lấn (bình thường: # 1,52; ung thư BQ nông: # 1,26; ung thư BQ xâm lấn: # 1,02).

            3- Như vậy, có thể sử dụng tỷ số CD4/CD8 như một xét nghiệm góp phần trong chẩn đoán một u bàng quang là ung thư hay u lành và giúp theo dõi tiến triển của ung thư bàng quang (từ thể nông sang thể xâm lấn) trong quá trình điều trị.

 

SUMMARY

CHANGES OF LYMPHOCYTES IN PERIPHERAL BLOOD ON BLADDER CANCER PATIENTS.

I.               INTRODUCTION

Since the early 70s of 20th century, immune disorders in cancer diseases have been known. By the late 70s, immune disorders of cells and fluid were detected in the transitional cells of carcinoma of bladders.

In early 1990s, based on the discovery of monoclonal antibodies, it was noticed that T lymphocytes have an important role in detecting cancer cells by recognizing their specific antigens.

AIMS:

-          Identifying the serum levels of CD3, CD4, CD8, and their ratios CD4/CD3, CD4/CD8 in healthy subjects and patients with bladder cancer.

-          Identifying the relationships between the differences of these levels in healthy subjects, patients with superficial and invasive bladder cancers.

-          Could these differences be used as diagnostic and monitoring tools for the above-mentioned cancers?

II.             MATERIALS AND METHODS

2.1  MATERIALS

-          Group 1 (control): Healthy subjects (free of cancers, AIDS, chronic or other serious diseases) with same ages and ethnicity with those in other groups.

-          Group 2: patients with superficial bladder cancers (based on pathology results)

-          Group 3: patients with invasive bladder cancer (based on pathology results)

2.2  METHODS

-          Cross-sectional study (with analyzed results)

-          Statistics: Mann-Whitney U and Kruskal Wallis tests were used to accredit the differences in the mean values of CD3, CD4, CD8, CD4/CD3, and CD4/CD8 between studied groups. Logistic regression was used to find if there was any diagnostic valuable information in identifying patients with bladder cancer. SPSS 11.5 for Windows was used to perform all analyses.

III.           CONCLUSIONS

Changes of lymphocytes in peripheral blood of 64 subjects were studied (29 healthy subjects, 20 patients with superficial and 15 patients with invasive bladder cancer). We found:

  1. The mean values of lymphocytes in peripheral blood of:

-          Healthy subjects: CD3 = 1070 ±117cells/mcl, CD4 = 830 ± 438 cells/mcl; CD8 = 459 ± 229 cells/mcl; CD4/CD3 = 0,755 ± 0,359; CD4/CD8 = 1,523 ± 0,352

-          Patients with superficial bladder cancers: CD3 = 1073 ± 229 cells/mcl; CD4 = 776 ± 239 cells/mcl; CD8 = 534 ±155 cells/mcl; CD4/CD3 = 0,713 ± 0,157; CD4/CD8 = 1,261 ± 0,170

-          Patients with invasive bladder cancers: CD3 = 1106 ± 98 cells/mcl; CD4 = 580 ± 52 cells/mcl; CD8 = 577 ± 36 cells/mcl; CD4/CD3 = 0,551 ± 0,374; CD4/CD8 = 1,018 ± 0,76

  1. CD4/CD8 ratio has prognosis value in diagnosing bladder cancers. The lower the ratio, the more tendencies does the cancer progress from in situ to invasive stages (healthy: # 1,52; superficial bladder cancer: #1,26; invasive bladder cancer: # 1,02).
  2. CD4/CD8 ratio could be used as a test that helps in diagnosing if a bladder tumor is benign or malignant. It could also be used in monitoring the progression of  bladder cancers (from in situ to invasive) during the treatment process.

 

***********************

Từ khóa; CD4, CD8, Lympho T, Ung thư, Bàng Quang

 

I- MỞ ĐẦU

            Từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỹ XX người ta đã biết đến những rối loạn về miễn dịch trong các bệnh ung thư [1,17]. Đến cuối thập niên này người ta đã nghiên cứu phát hiện những rối loạn miễn dịch tế bào và dịch thể trong các bệnh ung thư tế bào chuyển tiếp bàng quang [8], nhưng các báo cáo cũng chỉ đề cập đến một cách đại cương.

            Vào những năm đầu của thập niên 1990 nhờ phát triển phát hiện được kháng nguyên đơn dòng, người ta nhận thấy rằng tế bào lympho T có nhiệm vụ quan trọng trong việc phát hiện các tế bào ung thư qua sự nhận biết các kháng nguyên đặc hiệu của chúng.  Khi một tế bào trở thành ung thư, sẽ có xuất hiện những kháng nguyên đơn dòng đặc hiệu. Các tế bào lympho T có khả năng nhận biết chúng và tìm cách tiêu diệt chúng trước khi khối ung thư xuất hiện. Burnet đưa ra định luật gọi là “sự bảo vệ bằng miễn dịch” (immune surveillance). Nhờ có “sự bảo vệ bằng miễn dịch” này mà cơ thể tránh khỏi bị ung thư. Chỉ khi nào một số lượng lớn tế bào của một loại ung thư “thoát khỏi được sự bảo vệ bằng miễn dịch” này thì khối ung thư mới xuất hiện [4,6,7].

            Những hoạt động của các tế bào lympho T trong việc bảo vệ này xẩy ra âm thầm, liên tục và rất phức tạp. Hiện nay đang có các công trình nghiên cứu để tìm hiểu những hoạt động này hầu tim cách phát hiện cũng như chữa trị sớm các ung thư. Trong nước hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về sự liên quan giữa ung thư với sự thay đổi của các dòng tế bào lympho được công bố.

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm tìm hiểu vấn đề trên.

            MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

- Xác định các trị số CD3, CD4, CD8, các tỷ sô CD3/CD4, CD4/CD8 trong máu ngoại biên ở người lành, bệnh nhân ung thư bàng quang.

- Xác định mối liên quan giữa sự thay đổi của các trị số này ở người lành, bệnh nhân ung thư bàng quang nông và ung thư bàng quang xâm lấn.

- Xác định các sự thay đổi này có thể được sử dụng như một thông tin góp phần chẩn đoán và theo dõi diễn tiến của các bệnh nói trên hay không ?

 

II- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

            2.1- ĐỐI TƯỢNG:

Đối tượng nghiên cứu được chia thành 3 lô:

. Lô 1 (lô chứng): Người lành (không bị ung thư, không nhiễm HIV và không bị một bệnh mãn tính hay bệnh nặng khác) có cùng độ tuổi, dân tộc với các bệnh nhân trong lô nghiên cứu.

. Lô 2: tất cả bệnh nhân có kết quả GPB là ung thư  tế bào chuyển tiếp bàng quang thể nông.

. Lô 3: tất cả bệnh nhân có kết quả GPB là ung thư  tế bào chuyển tiếp bàng quang xâm lấn.

            2.2- PHƯƠNG PHÁP và VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu cắt ngang có phân tích kết quả.

- Đếm tế bào lympho với máy FACS count SU Version 1.2 trước mổ (ghi nhận số tế bào CD3, CD4, CD8 /mcl và tỷ số CD4/CD8, CD4/CD3).

- Xử lý thống kê: Dùng test Mann-Whitney U, test Kruskal Wallis  để kiểm định sự khác biệt về trị số trung bình của CD3, CD4, CD8, CD4/CD3, CD4/CD8  giữa các nhóm bệnh nhân và nhóm chứng. Dùng hồi quy tiên lượng (logistic regression) khảo sát các thông số trên để tìm ra thông nào có giá trị tiên lượng giúp chẩn đoán một người có bị ung thư bàng quang hay không. Sử dụng chương trình SPSS for windows 11.5.   

 

III- KẾT QUẢ

 

            3.1- Số bệnh nhân, tuổi trung bình của từng nhóm bệnh (bảng 1)

CHẨN ĐOÁN (GPB)

N

TUỔI (TB)

LÔ CHỨNG

29

64.21 ± 12.40

UT BÀNG QUANG NÔNG

20

65.45 ± 12.33

UT BÀNG QUANG  XÂM LẤN

15

55.07 ± 13.52

 

            3.2- Trị số trung bình các dòng tế bào theo nhóm bệnh (bảng 2):    

CHẨN ĐOÁN

 

CD3 (tb/mcl)

CD4 (tb/mcl)

CD8 (tb/mcl)

Tỷ Số CD4/CD3

Tỷ Số CD4/CD8

LÔ CHỨNG

Mean

1070.02

830.31

549.80

.7550

1.5231

N

29

29

29

29

29

Std. Dev

117.93

438.18

229.94

.3591

.3520

UT BÀNG QUANG NÔNG

Mean

1073.80

776.70

534.09

.7134

1.2610

N

20

20

20

20

20

Std. Dev

229.05

239.20

155.91

.1574

.1702

UT BÀNG QUANG  XÂM LẤN

Mean

1106.39

580.63

577.25

.5519

1.0183

N

15

15

15

15

15

Std. Dev

98.83

52.94

36.63

.037

.076

 

3.3- Kiểm định sự khác biệt của trị số trung bình các dòng tế bào giữa lô chứng và lô bệnh nhân ung thư bàng quang nông và ung thư bàng quang xâm lấn:(bảng 3)         

 

CD3 (tb/mcl)

CD4 (tb/mcl)

CD8 (tb/mcl)

Ty So CD4/CD3

Ty So CD4/CD8

Kruskal Wallis

2.068

4.503

2.656

3.585

29.616

df

2

2

2

2

2

Asymp. Sig.

.355

.105

.265

.167

.000

             Sự khác biệt của trung bình tỷ số CD4/CD8 giữa người bình thường và người mắc bệnh ung thư bàng quang có ý nghĩa thống kê (p=0,000). Sự khác biệt của các trị số khác đều không có ý nghĩa (p>0,05).

 

3.4- Kiểm định sự khác biệt của trị số trung bình các dòng tế bào giữa lô chứng và lô bệnh nhân ung thư bàng quang nông (bảng 4)

 

CD3 (tb/mcl)

CD4 (tb/mcl)

CD8 (tb/mcl)

Tỷ Số CD4/CD3

Tỷ Số CD4/CD8

Mann-Whitney U

229.000

268.000

274.000

279.000

120.500

Asymp. Sig. (2-tailed)

.214

.654

.744

.823

.001

            Chỉ có sự khác biệt của trung bình tỷ số CD4/CD8 giữa người bình thường và người mắc bệnh ung thư bàng quang nông có ý nghĩa thống kê (p=0,001). Sự khác biệt của các trị số khác đều không có ý nghĩa (p>0,05).

 

            3.5- Kiểm định sự khác biệt của trị số trung bình các dòng tế bào giữa lô chứng và lô bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn (bảng 5)

 

CD3 (tb/mcl)

CD4 (tb/mcl)

CD8 (tb/mcl)

Tỷ Số CD4/CD3

Tỷ Số CD4/CD8

Mann-Whitney U

177.000

192.000

143.000

184.000

45.000

Asymp. Sig. (2-tailed)

.316

.527

.064

.407

.000

            Chỉ có sự khác biệt của trung bình tỷ số CD4/CD8 giữa người bình thường và người mắc bệnh ung thư bàng quang xâm lấn có ý nghĩa thống kê (p=0,000).

 

           

3.6- Kiểm định sự khác biệt của trị số trung bình các dòng tế bào giữa lô bệnh nhân ung thư bàng quang nông và lô bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn (bảng 6)

 

 

CD3 (tb/mcl)

CD4 (tb/mcl)

CD8 (tb/mcl)

Ty So CD4/CD3

Ty So CD4/CD8

Chi-Square

.490

12.303

.590

6.769

19.124

df

1

1

1

1

1

Asymp. Sig.

.484

.000

.442

.009

.000

 

            Có sự khác biệt của trung bình của tỷ số CD4, CD4/CD3 và CD4/CD8 giữa lô bệnh nhân ung thư bàng quang nông và lô bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn (p<0,05).    

 

            3.7- Dùng phép hồi quy tiên lượng (logistic regression) để xác định các thông số có giá trị giúp chẩn đoán một người có bị ung thư bàng quang hay không.

 

 

 Kết quả như sau: (bảng 7) 

                                                                                                           

 

B

S.E.

Wald

df

Sig.

Exp(B)

95.0% C.I.for EXP(B)

 

 

 

 

 

 

 

Lower

Upper

CD3

.016

.009

3.030

1

.082

1.016

.998

1.034

CD4

-.018

.016

1.172

1

.279

.982

.952

1.014

CD4_CD3

27.014

17.821

2.298

1

.130

3.400

.000

.5782

CD4_CD8

-9.045

2.578

12.306

1

.000

4.100

.0160

1.018

CD8

-.008

.005

3.414

1

.065

.992

.983

1.001

 

Chỉ có trị số CD4/CD8 có giá trị tiên lượng có hay không có ung thư bàng quang (Wald=12,306; p=0,0005; ExpB =4,100; CI 95%: 0,0160 – 1,018)

 

IV- BÀN LUẬN

            4.1- Helmstein và cộng sự (1970) [7] đã khảo sát thấy có sự liên quan mật thiết giữa ung thư hệ niệu với các thay đổi trong hệ thống miễn dịch.

Perlman và cộng sự (1972) [12] đã nghiên cứu trên 54 bệnh nhân bị ung thư bàng quang nhận thấy phản ứng lymphocyte gia tăng 88% trong nhóm bệnh nhân ung thư bàng quang thể nông và 41% trong thể xâm lấn.

Tarkan Soygur và cộng sự [16] nghiên cứu trên 60 bệnh nhân ung thư bàng quang (30 ung thư thể nông và 30 thể xâm lấn) nhận thấy sự thay đổi về số lượng tế bào lympho không quan trọng mà chính sự thay đổi tỷ số các dòng tế bào mới phản ánh tình trạng ung thư bàng quang.

            4.2- Trong nghiên cứu này chúng tôi có 64 người gồm 29 người chứng, 20 bệnh nhân ung thư bàng quang nông 15 bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn chúng tôi nhận thấy: trị số trung bình tỷ số CD4/CD8 của nhóm chứng = 1,52 ± 0,35, nhóm ung thư bàng quang nông = 1,26 ± 0,17 và nhóm ung thư bàng quang xâm lấn = 1,02 ± 0,08 (bảng 2)

Kiểm định sự khác biệt của trị số trung bình các dòng tế bào giữa lô chứng và lô bệnh nhân ung thư bàng quang nông và ung thư bàng quang xâm lấn chúng tôi thấy sự khác biệt của trung bình tỷ số CD4/CD8 giữa người bình thường và người mắc bệnh ung thư bàng quang có ý nghĩa thống kê (p=0,000). Sự khác biệt của các trị số khác đều không có ý nghĩa (p>0,05 -  test Kruskal Wallis) (bảng 3). So sánh trị số trung bình các tế bào giữa lô chứng và lô bệnh nhân ung thư bàng quang nông chúng tôi thấy chỉ có tỷ số CD4/CD8 là có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0.001, Mann-Whitney)(bảng 4), so sánh trị số trung bình các tế bào giữa lô chứng và lô bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn chúng tôi thấy chỉ có tỷ số CD4/CD8 là có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0.000, Mann-Whitney)(bảng 5), so sánh trị số trung bình các tế bào giữa lô bệnh nhân ung thư bàng quang nông và lô bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn chúng tôi thấy có thông số CD4, và các tỷ số CD4/CD3 CD4/CD8 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0.05, Mann-Whitney).

Như vậy, có sự thay đổi các dòng tế bào lympho trong máu ngoại biên khi một cơ thể bị ung thư bàng quang, đặc biệt là ung thư bàng quang thể xâm lấn. Sự thay đổi này rất phức tạp, chi phối bởi những quy luật mà cho đến nay người ta chưa hiểu rõ. Tuy nhiên qua khảo sát bằng các phép tính thống kê chúng tôi thấy sự thay đổi mỗi dòng tế bào lympho không có ý nghĩa mà chỉ có sự thay đổi tỷ số CD4/CD8 là có ý nghĩa. Sự khác biệt của tỷ số này giữa người bình thường với người bị ung thư bàng quang nông và với người bị ung thư bàng quang xâm lấn có ý nghĩa thống kê (p = 0,0001, p = 0,0000; Mann-Whitney).(bảng 6).

            Ngoài ra sự khác biệt của các thông số khác như  CD3, CD4, CD8 cũng như các tỷ số CD4/CD3 giữa nhóm người lành và các nhóm người bị ung thư bàng quang nông và ung thư bàng quang xâm lấn đều không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). (bảng 3,4,5).

            4.3- Tại Việt Nam, những nghiên cứu bước đầu của Phan thị Phi Phi và cs (1985-1986) [13], Nguyễn Tuấn (1994), Đỗ Trung Phấn và cs (1995), Phan thị Thu Anh và cs (1995) cho thấy tế bào T CD4 trong máu ngoại vi của người Việt Nam vào khoảng 400 – 1200 tb/mm3, và tỷ số CD4/CD8 # 1,2 – 1,5

            Theo Glenn Lawlor và Thomas Fisher[6] trị số bình thường của tỷ số CD4/CD8 là 1,5-2, theo Abbas  là 1,4-2,2. Trong những trường hợp suy giảm miễn dịch nặng (như AIDS) tỷ số naỳ có thể giảm xuống đến £ 1. Trong khi nghiên cứu tác dụng chống ung thư bàng quang của BCG, Boccafoshi thấy rằng sau khi bơm BCG vào bàng quang để điều trị ung thư bàng quang nông, những bệnh nhân có tỷ số CD4/CD8 >1 thì không bị tái phát, ngược lại những bệnh nhân có CD4/CD8 < 1 có tỷ lệ tái phát rất cao[2,3]. Theo Glenn Lawlor và Thomas Fisher[6], tỷ số CD4/CD8 giảm là do CD4 giảm song song với CD8 tăng, trong đó nguyên nhân chính là do CD4 giảm nhiều hơn.

            Boccafoshi[2] đã nghiên cứu xem tác dụng của BCG có liên quan đến kiểu hình miễn dịch tế bào T hay không, kết quả như sau: Sau đợt điều trị bơm BCG vào bàng quang, ông đã kiểm tra thấy tỷ số CD4/CD8 > 1. Và sau 2 năm thì tỷ số này xuống thấp còn CD4/CD8 <1.

            4.4- Kết quả khảo sát sự tương quan của các thông số trên với chẩn đoán một trường hợp bệnh nhân là có ung thư bàng quang hay không bằng phép hồi quy tiên lượng cho thấy chỉ có tỷ số CD4/CD8 có giá trị tiên lượng trong chẩn đoán một người có bị ung thư bàng quang hay không (hệ số Wald = 12,306, p= 0,0000, ExpB =4,100; CI 95%: 0,0160 – 1,018). Nói một cách khác, ở một người có u bàng quang, nếu tỷ số CD4/CD8 # 1,5 (trị số bình thường) thì có nhiều khả năng là u lành tính, nếu tỷ số CD4/CD8 giảm xuống đến £ 1,26 thì có khả năng là ung thư bàng quang nông và nếu tỷ số CD4/CD8 giảm xuống đến £ 1,02 thì nhiều khả năng ung bàng quang đã sang giai đoạn xâm lấn (bảng 7). Tarkan Soygur và cộng sự[16],  nghiên cứu trên 3 nhóm, mỗi nhóm 30 người thấy kết quả như sau: nhóm người lành: CD4/CD8=1,49 ± 0,67, nhóm bệnh nhân ung thư bàng quang nông: CD4/CD8=1,33 ± 0,63, và nhóm bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn: CD4/CD8=0,85 ± 0,59, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,01; Kruskal-Wallis), Rubenstein[14] cũng thấy có kết quả tương tự.

 

V- KẾT LUẬN

            Qua nghiên cứu sự thay đổi tế bào lympho trong máu ngoai biên của 64 người gồm 29 người chứng, 20 bệnh nhân ung thư bàng quang nông 15 bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn chúng tôi nhận thấy:

            1- Trị số trung bình các dòng tế bào lympho trong máu ngoại biên:

            - Của người lành: CD3 = 1070 ± 117 tb/mcl; CD4 = 830 ± 438 tb/mcl; CD8 = 459 ± 229 tb/mcl;  CD4/CD3 = 0,755 ± 0,359; CD4/CD8 = 1,523 ± 0,352.

             - Của bệnh nhân ung thư bàng quang nông: CD3 = 1073 ± 229 tb/mcl; CD4 = 776 ± 239 tb/mcl; CD8 = 534 ±155 tb/mcl; CD4/CD3 = 0,713 ± 0,157; CD4/CD8 = 1,261 ± 0,170.

            - Của bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn: CD3 = 1106 ± 98 tb/mcl; CD4 = 580 ± 52 tb/mcl; CD8 = 577 ± 36 tb/mcl; CD4/CD3 = 0,551 ± 0,374; CD4/CD8 = 1,018 ± 0,763.

            2 – Tỷ số CD4/CD8 có giá trị tiên lượng trong chẩn đoán ung thư bàng quang. Tỷ số này càng thấp thì ung thư bàng quang càng có chiều hướng chuyển từ giai đoạn ung thư nông sang giai đoạn ung thư xâm lấn (bình thường: # 1,52; ung thư BQ nông: # 1,26; ung thư BQ xâm lấn: # 1,02).

            3- Như vậy, có thể sử dụng tỷ số CD4/CD8 như một xét nghiệm góp phần trong chẩn đoán một u bàng quang là ung thư hay u lành và giúp theo dõi tiến triển của ung thư bàng quang (từ thể nông sang thể xâm lấn) trong quá trình điều trị.

 

************************************

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

                                   

  1. An Vũ Triệu. Miễn dịch trong ung thư và hội chứng tăng triển tế bào trong ung thư. Miễn dịch học. NXB . NXB Y Học Hà Nội: 158-164; 1989.
  2. Boccafoschi C.: Lateeffects of intravesical BCG immunotherapyon bladder mucosa infiltrating ymphocytes: An immunohistochemical study. Eur. Urol. 27 (4), 334-338,1995.
  3. Crowder W., Gertner HR.: Corelation of preoperative lymphocyte reactivity with the clinical course of cancer patients. Surg. Gyneco. Abdom. Obstet. 136: 380-384.  1973
  4. David Male: Immunity and tumor prevention. Clinical immunology. Gower Medical Pubishing. 19 91; 20.1 – 20.9.
  5. Fidler LJ, Schroit: Recognition and destruction of neoplasic cells by acivated macrophages. Biochim. & Biophys. Acta 1989; 948: 151 – 173.
  6. Glenn J. Lowlor, Thomas Fisher: Manual of Allergy and Immunology. CD-ROM, Corporated Technology Ventures. Philadelphia. 1997.
  7. Helmstein K., Bubenik J.: Immune response to urinary tumors in man. Int. Journ. Of Cancer 5: 39-46. 1970
  8. Hùng Nguyễn Chấn, Vũ Vũ Văn, Quốc Nguyễn Mạnh (Dịch từ R.R. Love). Sinh học tế bào và phân tử của bệnh ung thư. Cẩm nang ung bướu học lâm sàng. Nhà XB Y Học, XB lần thứ VI : 1-5; 1995.
  9. Jonathan Brostoff: Immune responses. Clinical immunology. Gower Medical Pbishing. 19 91;1.1 – 1.7.
  10. Lloyd KO, Old LJ: humoral monoclonal antibodies to glycolipids and other carbohydrate antigens: dissection of the humoral immune response in cancer patients. Cancer Res. 1989; 49: 3445 – 3451.
  11. Pecht M., Trainin N.: T lymphocyte subsets and function in peripheral bloodof patients with urological cancer. Europ. Urol. 13: 397-400. 1987
  12. Perlman P., O’Toole C.: Cellular immunity to human urinary blader carcinoma. Corelation to clinical stage and radiotherapy. Int. J. Cancer 10: 77-91. 1972
  13. Phi Phan Thị Phi. Nhận dạng tế bào máu. Miễn dịch học. NXB . NXB Y Học Hà Nội: 158-164; 1989.
  14. Rubenstein M., Ray P.: Lymphocyte subsets in urologic cancer patients. Urol. Res. 15: 181-185. 1987  
  15. Sato O., Fujibayashi K., Ito H.:Stage related cell-mediated cytotoxicity with effector cell analysis computation on cytotoxic activity of Y cell and non-T cell. Cell immunol. 44: 225-241. 1979
  16. Tarkan Soygur, Yasar Beduk, et al: Analysis of the peripheral blood lymphocyte subsets in patients with bladder carcinoma. Urol. 53: 88-91. 1999.
  17. Vinh Nguyễn Tuấn: Hóa liệu pháp hổ trợ trong điều trị ung thư bàng quang. Luận án tiến sĩ y học. Mã số 03.01.27. 1999.

 

 

flexibest benh dau lung dau xuong khop thoai hoa khop goi thoat vi dia dem dau khop goi chua ung thu chua dot quy chua dot quy chua yeu sinh ly nam ngoc cau nam lim xanh sam ngoc linh






COPYRIGHT@TƯ VẤN SỨC KHỎE - HỘI HÀNH NGHỀ Y TẾ TƯ NHÂN - KHÁNH HÒA 
Số lượt truy cập: 94557