Buu Dien DakLak Bluestar
THÔNG BÁO


HyperLink

Số lượt truy cập: 184816

Y T? TU NHÂN VI?T NAM
Y T? TU NHÂN TPHCM
T?ng H?i Y H?c
T?ng H?i Y H?c
T?ng H?i Y H?c
T?ng H?i Y H?c
Y T? C?ng Ð?ng
Tin t?c & S? ki?n
11/5/2019 8:38:29 AM
TÌNH HÌNH SỎI MẬT QUA SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN tại Bệnh Viện tỉnh Khánh Hòa

             Tác giả hồi cứu 88.546 ca siêu âm thực hiện trên đối tượng không chọn lựa tại bệnh viện tỉnh Khánh Hòa trong 5 năm phát hiện có 1584 người có sỏi mật. Trong đó tỷ lệ có sỏi mật trong lô bệnh là1,4%. Sỏi mật xuất hiện nhiều từ tuổi 25 đến 80. Bệnh nhân nhỏ nhất là 5 tuổi, lớn nhất là 89 tuổi. Tuổi trung bình ở bệnh nhân nam là 54,5 ± 16,5 tuổi, ở bệnh nhân nữ là 53,9 ± 16,9 tuổi. Tỷ lệ Nữ / Nam :  952 / 632  ca  #  1,5

Trong số người có sỏi mật, tỷ lệ vị trí sỏi mật: sỏi túi mật đơn thuần 76,2%, sỏi OMC đơn thuần 11,9%, sỏi túi mật đơn thuần và phối hợp 77%, sỏi OMC đơn thuần và phối hợp 18,2%, sỏi đường mật trong gan 4,8%. Tác giả lưu ý rằng các tỷ lệ này khác biệt nhiều với các số liệu đã được công bố trước đây và khuyến nghị nên có một cuộc điều tra dịch tể trên quy mô toàn quốc theo đúng quy trình để có các số liệu chính  xác giúp ngành y tế hoạch định các chính sách phòng chống và điều trị hiệu quả.


TÌNH HÌNH SỎI MẬT QUA SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN 

tại Bệnh Viện tỉnh Khánh Hòa

BS Nguyễn Ngọc Hiền

BS Lý Ngọc Tài

 

TÓM TẮT:

            Tác giả hồi cứu 88.546 ca siêu âm thực hiện trên đối tượng không chọn lựa tại bệnh viện tỉnh Khánh Hòa trong 5 năm phát hiện có 1584 người có sỏi mật. Trong đó tỷ lệ có sỏi mật trong lô bệnh là1,4%. Sỏi mật xuất hiện nhiều từ tuổi 25 đến 80. Bệnh nhân nhỏ nhất là 5 tuổi, lớn nhất là 89 tuổi. Tuổi trung bình ở bệnh nhân nam là 54,5 ± 16,5 tuổi, ở bệnh nhân nữ là 53,9 ± 16,9 tuổi. Tỷ lệ Nữ / Nam :  952 / 632  ca  #  1,5

Trong số người có sỏi mật, tỷ lệ vị trí sỏi mật: sỏi túi mật đơn thuần 76,2%, sỏi OMC đơn thuần 11,9%, sỏi túi mật đơn thuần và phối hợp 77%, sỏi OMC đơn thuần và phối hợp 18,2%, sỏi đường mật trong gan 4,8%. Tác giả lưu ý rằng các tỷ lệ này khác biệt nhiều với các số liệu đã được công bố trước đây và khuyến nghị nên có một cuộc điều tra dịch tể trên quy mô toàn quốc theo đúng quy trình để có các số liệu chính  xác giúp ngành y tế hoạch định các chính sách phòng chống và điều trị hiệu quả.

 

ABSTRACT :

During a 5 - year period , 1,584 cases of biliary stone were detected by ultrasound diagnosis from a non- selective retrospective study of 88,546 patients admitted  to  Khanh hoa Provincial Hospital . The frequency of biliary stones in the study group were 1.4% and distributed largely within the age bracket of 25-80  ( minimum : 5 , maximum : 89 , mean 54.5 ± 16.5 years  for males and 53.9 ±16.9 years  for females ) . The ratio for male over female was roughly equal to 1.5.

For the study group , the frequency varied according to the localities of stone detected : gallbladder stone : 76.2% , biliary tract stone : 11.9% , gallbladder and other localities stones: 77% , biliary tract and other localities stones 18.2% , intrahepatic stones :4,8%. The author would like to emphasize that these frequencies were remarkedly different with those already published and therefore recommend that a nationwide epidemiologic survey should be  carried out in order  to collect precise data for the planning of health policies concerning effective control and management of the biliary tract stones  in Vietnam.

 

I- MỞ ĐẦU

Sỏi mật là bệnh thường gặp trên thế giới, xuất độ vào khoảng 5-7%. Tuy nhiên sỏi mật ở từng vùng có những đặc điểm khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố: Dân tộc, sự tăng tiết bilirubine, đặc biệt là bilirubine không liên hợp, nhiễm vi trùng hoặc ký sinh trùng đường ruột, chế độ ăn, sự ứ đọng dịch mật…

            Theo tài liệu, ở các nước phương tây đa số sỏi mật là sỏi túi mật và cấu tạo chủ yếu là cholesterol. Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam trước đây thường giả định và nhấn mạnh đặc điểm của sỏi mật ở người Việt Nam phần lớn được cấu tạo bởi sắc tố mật, có nhiều ở đường mật và chủ yếu ở ống mật chủ (5,13). Nguyên nhân chủ yếu của sự  khác biệt này được giải thích là do tỷ lệ nhiễm trùng đường mật và nhiễm ký sinh trùng cao. cũng như chế độ ăn ít đạm của người Việt Nam(2,4,5).

Trong những năm gần đây việc sử dụng máy siêu âm trong các bệnh viện trở nên rộng rãi hơn, chẩn đoán sỏi mật trở nên dễ dàng hơn thì các số liệu thống kê cho thấy đa số các trường hợp sỏi mật được phát hiện qua khám siêu âm tại các bệnh viện là sỏi túi mật(3,9,10)

Để góp phần tìm hiểu thêm về vấn đề này, chúng tôi hồi cứu tình hình sỏi mật của bệnh nhân đến khám siêu âm tại khoa chẩn đoán hình ảnh bệïnh viện tỉnh Khánh Hòa trong 5 năm (1995-1999) nhằm:

            - Góp phần nghiên cứu tỷ lệ vị trí sỏi mật trong nhân dân.

            - So sánh kết quả siêu âm với kết quả phẫu thuật để đánh giá khả năng chẩn đoán sỏi mật của siêu âm.

 

II- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

                        1- ĐỐI TƯỢNG:

Tất cả bệnh nhân khám siêu âm tại khoa chẩn đoán hình ảnh bệïnh viện tỉnh Khánh Hòa trong 5 năm (1995-1999).

                        2- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Hồi cứu mô tả cắt ngang.

Ghi nhận các thông tin của bệnh nhân khám siêu âm trong thời gian từ 1955-1999 được phát hiện có sỏi mật, bao gồm: sỏi túi mật, sỏi ống mật chủ, sỏi đường mật trong gan, sỏi đường mật (sỏi ống mật chủ + sỏi đường mật trong gan), sỏi hổn hợp (sỏi túi mật + sỏi ống mật chủ hoặc sỏi túi mật + sỏi đường mật trong gan). Các trường hợp bệnh nhân khám nhiều lần chỉ tính một lần.

Nghiên cứu hồ sơ bệnh án của tất cả bệnh nhân được khám siêu âm sau đó được mổ sỏi mật tại khoa ngoại bệnh viện Khánh Hòa trong thời gian trên .

Nhập số liệu vào chương trình và tính toán thống kê theo chương trình SPSS for win 9.0(test t, c2 , Fisher’s exact, độ nhạy, độ chuyên…)   

 

III- KẾT QUẢ

1- GIỚI: Tỷ lệ Nữ / Nam = 1,5 (Nữ     : 952 ca, Nam :  632 ca)

 

2- TUỔI TRUNG BÌNH: 54,2 ± 16,8 tuổi

 

 

 

 

             GIỚI

TUỔI TB

ĐỘ LỆCH CHUẨN

n

NỮ

53.9

16.5

952

NAM

54.5

16.9

632

TC

54.2

16.8

1584

Nhỏ nhất: 5 tuổi                 Lớn nhất: 89 tuổi  

 

3- TUỔI TRUNG BÌNH / LOẠI SỎI:

CHẨN ĐOÁN SA

TUỔI TB

ĐỘ LỆCH CHUẨN

n

CÓ SỎI TM

55.20

15.90

1295

CÓ SỎI OMC

50.55

19.89

236

SỎI ĐMTG

45.06

17.27

53

TC

54.17

16.76

1584

                                                            p = 0,000

 

4- TỶ LỆ SỎI MẬT: CHẨN ĐOÁN SA

 

 

 

 

 

 

 

Số ca

Tỷ lệ %

SỎI TM

1205

76.2

SỎI OMC

189

11.9

SỎI DMTG

53

3.3

SỎI OMC+DMTG

47

3.0

SỎI TM+DM

88

5.6

TỔNG CỘNG

1584

100

 

 

5- TỶ LỆ SỐ LƯỢNG SỎI (trên mỗi bệnh nhân):

 

 

 

 

 

Số ca

Tỷ lệ %

1 VIÊN

1111

70.1

2-5 VIÊN

223

14.1

> 5 VIÊN

250

15.8

TỔNG CỘNG

1584

100.0

           

 

6- SỐ LƯỢNG SỎI/GIỚI:

 

 

 

 

 

 

NAM  %

NỮ  %

1 VIÊN

427

67.6%

684

71.8%

2-5 VIÊN

93

14.7%

130

13.7%

> 5 VIÊN

112

17.7%

138

14.5%

TC

632

100.0%

952

100.0%

                                                                                                p < 0,05

 

            7- LÝ DO KHÁM SA/LOẠI SỎI:

 

 

 

 

 

 

KHÔNG TCGM

CÓ TCGM

TC

CÓ SỎI TM

668

51.6%

627

48.4%

1295

CÓ SỎI OMC

54

22.9%

182

77.1%

236

CÓ SỎI ĐMTG

19

35.8%

34

64.2%

53

TỔNG CỘNG

741

46.8%

843

53.2%

1584

p =  0,000

 

            8- SO SÁNH KẾT QUẢ SIÊU ÂM VỚI KẾT QUẢ PHẪU THUẬT                        

                 SA

PT

SỎI TM

SỎI ĐM

SỎI TM

21

2

SỎI ĐM

3

49

                                                Độ nhạy: 87,5%,    Độ chuyên: 96%

 

 

  IV- BÀN LUẬN

            4.1- Qua hồi cứu 88.546 bệnh nhân khám siêu âm tổng quát tại bệnh viện tỉnh Khánh Hòa trong 5 năm (1995-1999) chúng tôi nhận thấy:

4.1.a- Phát hiện 1584 ca có sỏi mật, tỷ  lệ 1,4%

4.1.b- Tuổi trung bình : 54,2 ± 16,8 tuổi  (nam:  54,5 ± 16,9 / nữ 53,9 ± 16,5 tuổi), không có sự khác biệt (bảng 1). Sỏi mật xuất hiện nhiều từ tuổi 25 đến 80. Bệnh nhân nhỏ nhất là 5 tuổi, lớn nhất là 89 tuổi.

4.1.c- Tuổi trung bình ở mỗi loại sỏi có sự khác biệt có ý nghĩa (p=0,000): sỏi túi mật và hổn hợp: 55,2 ± 15,9; sỏi OMC và hổn hợp: 50,5 ±19,9; sỏi đường mật trong gan: 45 ± 17 tuổi (bảng 3).

4.1.d- Tỷ lệ Nữ / Nam (bảng 2):  952 / 632 ca # 1,5

Theo Charles và Sherry(20) đa số bệnh nhân bị sỏi mật là nữ (80%).

4.1.e- Trong 1584 ca sỏi mật được phát hiện co (bảng 4)ù:

                        -1207 sỏi túi mật đơn thuần, tỷ lệ :76,2%

                        -189 ca sỏi OMC đơn thuần, tỷ lệ:11,9%

                        -1295 ca sỏi túi mật đơn thuần và phối hợp, tỷ lệ:77%

                        - 296ca  sỏi OMC đơn thuần và phối hợp, tỷ lệ:18,2%

                                    - 81 ca sỏi đường mật trong gan, tỷ lệ: 4,8%

 

Theo các số liệu tổng hợp được đăng trong quyển Bệnh Học Ngọai Khoa (tập 1) của trường Đại Học Y Khoa Hà-Nội xuất bản năm 1984(15) thì tỷ lệ sỏi mật ở Việt Nam: Sỏi TM (đơn thuần và phối hợp) = 23,16%, Sỏi OMC (đơn thuần và phối hợp) = 82,53%, Sỏi trong gan (đơn thuần và phối hợp) = 24,09%.  Những tỷ lệ này khác xa với tỷ lệ sỏi mật ở Âu châu: Kelly (ý): sỏi túi mật= 58%, sỏi OMC= 12%, sỏi trong gan= 5-10%. Couzigou (Pháp)(24): sỏi túi mật= 65-75%, sỏi OMC= 15-30%, Jensen (˜Đan Mạch)(23): sỏi túi mật= 72%, sỏi OMC= 21%  và ngay cả tỷ lệ sỏi mật của các nước Á châu: Nakanuma (Nhật) (26):sỏi túi mật=82%, sỏi OMC=18%, cũng như của các nước Đông Nam Á gần Việt Nam: Balacegaram (Malaysia)(17) : :sỏi túi mật= 95%, sỏi OMC= 5%, cũng như các nghiên cứu trong nước trong thời gian gần đây: Nguyễn Ngọc Hiền (1991): sỏi TM= 54%, sỏi OMC= 19%; Lê Văn Cường: sỏi TM= 47%, sỏi OMC= 31%; Lê Văn Nghĩa: sỏi TM= 65%, sỏi OMC= 22%. Điều này khiến các nhà nghiên cứu suy nghĩ: vì sao có sự khác biệt đó?  Phải chăng do các yếu tố về nhân chủng, địa phương, vệ sinh, tập quán về ăn uống?….

Từ những tổng kết tại các bệnh viện (qua số liệu bệnh nhân bị sỏi mật có nhập viện điều trị) trước đây các nhà nghiên cứu nhận định rằng sỏi mật ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt với sỏi mật ở Âu châu về mặt cấu tạo, nguyên nhân, diễn biến cũng như dịch tể học. Các tổng kết trên cho thấy sỏi mật ở Việt Nam chủ yếu là sỏi muối mật và phần lớn hình thành trên những dị vật đường mật (vi trùng, xác giun…), do đó sỏi ống mật chủ và sỏi đường mật chiếm một tỷ lệ rất cao(13,15,16).

Một số nhà nghiên cứu cho rằng những tỷ lệ sỏi mật tại Việt Nam nêu trên là kết quả của những thống kê từ các bệnh viện, nơi mà các bệnh nhân bị sỏi mật có các triệu chứng lâm sàng rõ rệt mới đến điều trị nên người ta nghĩ rằng đối tượng nghiên cứu của các thống kê nêu trên là số bệnh nhân bị sỏi mật có nằm viện và những tỷ lệ nêu trên không phải là kết quả của một cuộc điều tra dịch tể học nên không hoàn toàn đại diện cho đặc điểm sỏi mật của người Việt Nam (1,3,9).

 Theo các nghiên cứu lâm sàng của Charles K. và Mc Sherry(20,27) thì chỉ có khoảng 8-12% các trường hợp sỏi túi mật có triệu chứng lâm sàng và chỉ có một phần trong số đó phải nhập viện hoặc phải điều trị phẫu thuật, trái lại có khoảng 70-80% các trường hợp sỏi ống mật chủ có triệu chứng lâm sàng rõ rệt phải nằm viện và một số lớn trong đó phải điều trị phẫu thuật. Marvin(25) cho rằng nguyên nhân chính gây ra sự kết sỏi mật là sự ứ đọng nước mật (do tắt nghẽn thứ phát hoặc do cấu tạo cơ thể học) do đó thường thấy sự kết sỏi trong túi mật nhiều hơn trong đường dẫn mật (dù là loại sỏi nào). Vì vậy các nghiên cứu dịch tễ trên nhiều nước đều cho thấy tỷ lệ sỏi túi mật cao hơn tỷ lệ sỏi ống mật.

So sánh với các tác giả khác:

 

TÁC GIẢ

SỎI TÚI MẬT

SỎI OMC

Nguyễn Đức Ninh (1975)

Nguyễn Như Bằng

Nguyễn Dương Quang (1980)

Trương Công Trung (1986)

14,5%

18%

14,5%

12%

85,5%

82%

85,5%

88%

Lê Văn Cường (1999)

Lê Văn Nghĩa (1999)

Nguyễn Ngọc Hiền (1991)

Balacegaram (Malaysia)

Nakanuma (Nhật)

Couzigou (Pháp)

Kelly (ý)

Jensen (˜Đan Mạch)

Chúng tôi

 

47%

65%

54%

95%

82%

65-75%

58%

72%

76,2%

31%

22%

19%

5%

18%

15-30%

12%

21%

11,9%

 

4.2- Tại Việt Nam, những năm gần đây tình hình kinh tế phát triễn ngày càng tốt hơn, công nghiệp hóa ngày càng lan rộng trong nhiều lĩnh vực, đời sống ngày một cao hơn và có nhiều thay đổi theo xu hướng các nước công nghiệp, tập quán ăn uống cũng vì vậy có nhiều thay đổi: có nhiều đạm, chất béo hơn trong khẩu phần ăn(5)… là những yếu tố có thể làm tăng tỷ lệ sỏi cholesterol  và làm thay đổi tỷ lệ sỏi mật ở người Việt Nam.

            4.3- Khoảng 15 năm gần đây, sự phát triển của kỹ thuật siêu âm  tại Việt Nam ngày càng lan rộng giúp các bác sĩ phát hiện sỏi mật dễ dàng hơn. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy siêu âm là phương tiện rất tốt giúp phát hiện sỏi mật,  vừa nhanh chóng, không độc hại, cơ động và không đau nên việc chẩn đoán sỏi mật trở nên dễ dàng và có độ chính xác cao(14,22,25,26). Các BS siêu âm có thể phát hiện 80-100% các sỏi mật qua siêu âm bụng (23). Ngày nay siêu âm đã được công nhận là phương tiện cận lâm sàng có độ nhậy và độ chuyên cao (83%- 95%) , không độc hại nhanh chóng và rẽ tiền giúp chẩn đoán sỏi mật, nhất là có thể phát hiện được các sỏi mật rất nhỏ (7,10,20).

Chúng tôi nghĩ rằng sở dĩ có sự khác biệt về tỷ lệ vị trí sỏi mật giữa các tác giả phần lớn là do đối tượng nghiên cứu của các tác giả không thống nhất. Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu dựa vào hồ sơ bệnh án tại các bệnh viện, như vậy đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân bị sỏi mật có triệu chứng, đang được điều trị nên những kết quả nhận được không phản ảnh một cách chính xác tình hình sỏi mật của người Việt Nam.

Qua các yếu tố trên chúng ta có cơ sở để tin rằng sỏi mật ở Việt Nam có những đặc trưng riêng của một bệnh lý vùng nhiệt đới (nguyên nhân nhiễm trùng ngược dòng do vi trùng và giun chui lên đường mật cao, tập quán ăn uống nhiều rau quả, ít mỡ…), nhưng cũng có những tính chất chung theo tính quy luật của sỏi mật trên thế giới (tỷ lệ sỏi túi mật cao hơn sỏi ống mật chủ).

4.4- Về số lượng sỏi trên mỗi bệnh nhân: 1 viên: có 1111 bệnh nhân, tỷ lệ 70,1%; 2-5 viên 223 bệnh nhân, tỷ lệ 14,1%; trên 5 viên:250 bệnh nhân, tỷ lệ 15,8%. Như vậy đại đa số bệnh nhân bị sỏi mật có 1 viên (bảng 5). Tỷ lệ này tương đương giữa nam và nữ (bảng 6).

4.5- Trong số 1295 bệnh nhân có sỏi túi mật có 48,4% đến khám siêu âm do có triệu chứng gan mật và 51,6% không có triệu chứng nào cả, số bệnh nhân này chỉ được phát hiện sỏi mật một cách tình cờ. Ngược lại trong số 289 bệnh nhân có sỏi đường mật có 76,3%  đến khám siêu âm do có triệu chứng gan mật và 23,7% không có triệu chứng (bảng 7) (p=0.000). Điều này chứng tỏ đa số bệnh nhân có sỏi đường mật thường có biểu hiện lâm sàng rõ rệt hơn những bệnh nhân có sỏi túi mật. Theo y văn, khoảng 80% sỏi túi mật không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt và thường được phát hiện tình cờ.

            4.6- Có 75 bệnh nhân có sỏi mật nhập viện để mổ. So sánh kết quả siêu âm với kết quả phẫu thuật (các bệnh nhân được khám siêu âm sau đó được mổ tại bệnh viện Khánh Hòa) trong thời gian từ 1995-1999, kết quả như sau:

 

                 SA

PT

SOI TM

SOI ĐM

SOI TM

21

2

SOI ĐM

3

49

                       

            Như vậy, tại bệnh viện tỉnh Khánh Hòa siêu âm chẩn đoán sỏi mật có độ nhạy: 87,5%, độ chuyên: 96%, khả năng phát hiện sỏi mật của siêu âm là 93%.

So sánh với các tác giả khác:

- Theo Sakuma, Ishigata và Takeuchi độ nhạy và độ chuyên trong siêu âm chẩn đoán sỏi mật là 85% - 90% (20).

- Theo Trần Nhựt Aùnh Phượng, Nguyễn Thị Aùnh Nguyệt: 69% -  75%

-Theo Nguyễn Đức Trí: 68% -  83%

Như vậy, siêu âm là phương tiện chẩn đoán sỏi mật có độ nhậy và độ chuyên cao, có thể sử dụng như một phương tiện tầm soát sỏi mật rất đơn giãn và hiệu quả để phát hiện sỏi mật trong cộng đồng.

            4.7- Tồn tại của nghiên cứu ngày là chúng tôi không thể thực hiện được một cuộc điều tra cơ bản quy mô với cỡ mẫu lớn được chọn ngẫu nhiên theo cụm phân tầng dựa vào cỡ phân bố dân cư trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng qua hồi cứu trên đối tượng là tất cả bệnh nhân đến khám siêu âm không chọn lựa (có và không có triệu chứng lâm sàng của bệnh sỏi mật) trong 5 năm cũng đã một phần nào nói lên tình hình sỏi mật trong dân chúng thuộc địa bàn tỉnh.

 

V- KẾT LUẬN

           

Trong những năm gần đây xã hội Việt Nam ngày một phát triển theo hướng công nghiệp hóa, đời sống cũng thay đổi ngày một khá hơn theo các quy luật của nó do đó tình hình sỏi mật ở nước ta cũng có nhiều thay đổi. Qua nghiên cứu 88.546 ca siêu âm tại bệnh viện tỉnh Khánh Hòa trong 5 năm (1995-1999) chúng tôi rút ra được các kết quả như sau:

Có 1584 bệnh nhân có sỏi mật được phát hiện (tỷ lệ 1,4%), trong đó có:

            -1207 sỏi túi mật đơn thuần, tỷ lệ:76,2%

            -189 ca sỏi OMC đơn thuần, tỷ lệ:11,9%

            -1295 ca sỏi túi mật đơn thuần và phối hợp, tỷ lệ:77%

            - 296ca  sỏi OMC đơn thuần và phối hợp, tỷ lệ:18,2%

                        - 81 ca sỏi đường mật trong gan, tỷ lệ: 4,8%

            Sỏi mật xuất hiện nhiều từ tuổi 25 đến 80. Bệnh nhân nhỏ nhất là 5 tuổi, lớn nhất là 89 tuổi. Tuổi trung bình ở bệnh nhân nam là 54,5 ± 16,5 tuổi, ở bệnh nhân nữ là 53,9 ± 16,9 tuổi. Tỷ lệ Nữ / Nam :  952 / 632  ca  #  1,5

Đối chiếu kết quả siêu âm với phẫu thuật chúng tôi cũng nhận thấy rằng chẩn đoán siêu âm sỏi mật tại bệnh viện tỉnh Khánh Hòa có độ nhạy và độ chuyên cao (87,5%, 96%). Chúng tôi nghĩ rằng siêu âm là phương tiện rất tốt, không gây đau, không độc hại, cơ động, rẽ tiền có thể sử dụng rộng rải để chẩn đoán sỏi mật một cách nhanh chóng và tương đối chính xác.

            Chúng tôi khuyến nghị nên có một cuộc điều tra dịch tể với cở mẫu lớn hơn và trên quy mô toàn quốc để có những số liệu chính xác hơn, phản ảnh đúng tình hình sỏi mật của người Việt Nam, ngỏ hầu có thể vạch ra các chương trình phòng chống và điều trị thích hợp.

***************

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

                        TIẾNG VIỆT

1.     Lê văn Cường : Thành phần hóa học của 110 mẫu sỏi mật ở người Việt Nam phân tích bằng quang phổ hồng ngoại và raman. Báo cáo khoa học Đại hội Hội Ngoại Khoa Việt Nam lần thứ  X : 146-154. 1999. 

2.     Nguyễn Văn Dũng: Nhận xét sỏi mật  5 năm. Công trình NCKH - Phú Khánh - tập IV: 128-132, 1987

3.     Nguyễn Ngọc Hiền: Tình hình sỏi mật và áp xe gan qua khám siêu âm tại BV tỉnh Khánh Hòa. Áp xe gan amip và sỏi đường mật. Hội thảo ngoại khoa Cần Thơ-Hậu Giang: 19 - 22;  6-1991.

4.     Phạm duy Hiển : Thành phần hóa học của sỏi và dịch mật trong bệnh sỏi OMC. Ngoại khoa số 2: 9-13. 1997

5.     Nguyễn đình Hối : Bệnh sỏi đường mật ở Việt Nam. Hội nghi khoa học kỹ thuật. Trường Đại Học Y Dược TP HCM-BV Đồng Tháp: 3-13. 1997

6.     Lê Phú Huy, Trần Thúy Nga: Nhận xét 120 áp xe gan điều trị tại Khoa Ngoại TH. BVPK-Công trình NCKH PK tập IV:  22 - 27, 1985

7.     Nguyễn Văn Luân, Nguyễn Đình Song Huy: Một số nhận xét về bệnh lý sỏi mật hiện nay. Hội thảo chuyên đề bệnh lý tiêu hóa. Bệnh viện Chợ Rẫy: 13-14. 1996.

8.     Nguyễn Đình Lý: Tình hình sỏi mật qua điều tra 209 trường hợp được điều trị bằng phẫu thuật tại BV Quân Y 110. Đại Hội Ngoại Khoa Việt Nam lần thứ X : 89-95. 1999.

9.     Lê văn Nghĩa và Cs: Điều tra tỷ lệ sỏi mật trong cộng đồng tại TP HCM. Báo Cáo Khoa Học. Đại Hội Ngoại Khoa Việt Nam lần thứ X : 155-166. 1999.

10.   Trần Nhựt Aùnh Phượng, Nguyễn Thị Aùnh Nguyệt: Vai trò của Siêu Aâm trong chẩn đoán sỏi mật. Hội thảo chuyên đề bệnh lý tiêu hóa. Bệnh viện Chợ Rẫy: 13-14. 1996.

11.   Đỗ kim Sơn, Trần đình Tho, Đỗ ngọc Thanh : Xác định thành phần hóa học sỏi túi mật ở người Việt Nam bằng quang phổ hồng ngoại. Ngoại khoa tập XXV số 2: 5-11. 1995

12.  Đỗ Kim Sơn: Kết quả nghiên cứu điều trị sỏi mật tại BV Việt Đức. Đại Hội Ngoại Khoa Việt Nam lần thứ X : 51-55. 1999.

13.   Tôn Thất Tùng et Nguyễn Dương Quang: Revue de Medecin. n. 19: 1-10. 1965

14.   Nguyễn Đức Trí: Giá trị của siêu âm trong chẩn đoán sỏi đường mật. Aùp xe gan amip và sỏi đường mật. Hội thảo ngoại khoa Cần Thơ-Hậu Giang: 93 – 95. 6 - 1991.

15.  Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội: Sỏi đường mật. Bệnh học Ngoại Khoa. Tập 1. Nhà xuất bản Y Học. In lần thứ 4 : 226-228. 1984  

16.  Trương Công Trung: Sỏi Mật. Bài giảng bệnh học Ngoại Khoa. Tập 1. Trường Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh: 305-307. 1991

                        TIẾNG ANH

17.  Balacegaram : Aspect epidemique de calculs biliaires a Kulalampur.  Anal Surg 175: 149-154, 1972.

18.  Belghiti: diagnostic et traitement  des calculs biliaires. La Revue du praticien. N. 87: 125-127,  1994.

19.  Birch PD et al: Are multiple examinations of the gallbladder helpful? Clin RadioJ 40:262, 1989.

20.  Charles K., Mc Sherry & all: The natural history of diagnosed gallstone diseases in symtomatic and asymtomatic patients. Ann. Surg. 202:59-63. Jul. 1985.

21.  Dowling, Johnston: Aspect clinique et epidemique de calculs biliaires. Anal Surg 369: 98-103. 1993

22.  Gelfand DW et al: Oral cholecystography vs gallbladder sonography: A prospective, blinded reappraisal. Am. Journ . Roent. n. 151: 69, 1988.

23.  Jensen KH, Jergensen T: Incidence of gallstones in a Danish population. Gastroenterology n. 100: 790, 1991.

24.  Magnien, Couzigou: Calculs biliaires: diagnostic et traitement. La Revue du praticien. n. 437: 436-438,  1999.

25.  Marvin H. Sleinsenger: Diseases of the gallbladder and bile ducts. Textbook of Medicin. Cecil-Loeb. Saunder comp. :1404-1409. 1971

26.  Nakanuma Y et al: Japanese Hepatolithiasis Study Group Pathologic features of hepatolithiasis in Japan. Hum. Pathol. n. 19: 1181, 1988.

27.  Norton J. Greenberger, Kurt J. Isselbacher: Diseases of gallbladder and bile ducts. Harrison’s  Principales of Internal Medicine. McGraw Hill. 14th edition vol 2: 1728 -1740. 1998. 

28.  Viehl AK: Epidemiology and natural history of gallstone disease. Gastroenterol. Clin. North Am. n. 20: 12 - 19, 1991.

29.  Sakuma S. Ishigata T., Takeuchi T.: Diagnostic imaging of liver, biliary tract, and pancreas. Springer Verlag: 26-29, 32-35. 1987.

 

******************

 

flexibest benh dau lung dau xuong khop thoai hoa khop goi thoat vi dia dem dau khop goi chua ung thu chua dot quy chua dot quy chua yeu sinh ly nam ngoc cau nam lim xanh sam ngoc linh






COPYRIGHT@TƯ VẤN SỨC KHỎE - HỘI HÀNH NGHỀ Y TẾ TƯ NHÂN - KHÁNH HÒA 
Số lượt truy cập: 184816